Ảnh bìa

Cuộc đời, sự nghiệp của nhà bác học Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn là một vị quan, một nhà khoa học trong rất nhiều lĩnh vực ở thời hậu Lê.Với kiến thức uyên thâm, tài trí hơn người, Lê Quý Đôn đã để lại nhiều bộ sách có giá trị ở nhiều thể loại khác nhau như lịch sử, địa lý, thơ văn, lý số… Ngoài ra, ông còn là một nhà nho, nhà giáo dục tài năng và đức độ. Qua bàn tay dạy dỗ với những bài học về kiến thức, đạo đức làm người, học trò của ông có rất nhiều người đã thành tài và giữ chức vụ quan lớn trong triều đình như Bùi Huy Bích, Bùi Bích Tựu …

Lê Quý Đôn sinh ngày 2-8-1726, nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, Lê Quý Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn.

Sau khi đã đỗ đạt, Lê Quý Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754), Hàn lâm viện thị giảng (năm 1757), Đốc đồng xứ Kinh Bắc (năm 1764), Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tử Giám (năm 1767), Tán lý quân vụ, Thị phó đô ngự sử (năm 1768), Công bộ hữu thị lang (năm 1769), Bồi tụng (Phó thủ tướng) (năm 1773), Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776), Hiệp trấn Nghệ An (năm 1783), Công bộ thượng thư (năm 1784)...

Lê Quý Đôn mất ngày 1-5-1784 tại quê mẹ, làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên (nay thuộc Hà Nam). Thi hài ông được đưa về mai táng ở quê nhà.

Trong cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn, có mấy sự kiện sau có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp trước tác, văn chương của ông. Đó là chuyện đi sứ Trung Quốc năm 1760 - 1762. Tại Yên Kinh (Bắc Kinh), Lê Quý Đôn gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên, tiếp xúc với nhiều trí thức nổi tiếng của nhà Thanh, bàn luận với họ những vấn đề sử học, triết học...

Học vấn sâu rộng của ông được các học giả Trung Quốc, Triều Tiên rất khâm phục. Lê Quý Đôn có dịp đọc nhiều sách mới lạ, kể cả sách của người phương Tây nói về địa lý thế giới, về ngôn ngữ học, thủy văn học... Đó là các đợt Lê Quý Đôn đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn những năm 1772, 1774, làm nhiệm vụ điều tra nỗi khổ của nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan lại, khám đạc ruộng đất các vùng ven biển bị địa chủ, cường hào địa phương man khai, trốn thuế...

Chính nhờ quá trình đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết nhiều việc đời như vậy mà kiến thức Lê Quý Đôn trở nên phong phú vô cùng. Ông viết trong lời tựa sách Kiến văn tiểu lục: "Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu. Thêm vào đấy phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách".

Tuy là quan đại thần, ông không mang đặc tính nhà quan mà lại có cốt cách một  nhà giáo : sống giản dị, ăn cơm với cua đồng, uống nước lá lốt thay trà, mặc áo nâu, luôn gần gũi dân chúng, vui khi họ được mùa, lo khi họ thất bát. Nơi ở và làm việc của ông chứa đầy sách “bên trái đồ thư, bên phải điển tịch, thi thư triễu giá, sách vở đầy nhà, trước thuật giàu hơn người xưa, sưu tập rộng hơn sách phủ”

Trần Danh Lâm, bạn cùng thời, nhận xét rằng Lê Quý Đôn “không sách gì không đọc, không vật gì không xem xét đến cùng. Ngày thường ngẫm nghĩ đến điều gì đều viết thành sách. Sách chứa đầy bàn, đầy tủ, kể ra khôn xiết”. Phan Huy Chú viết : “Ông tư chất khác đời, thông minh hơn người mà giữ tính nết hiền hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách”.

Cách đọc sách của Lê Quý Đôn rất nghiêm túc: “Đọc sách nên đọc văn bản cho kỹ, nhằm từng chữ một mới thấy thú vị, thấy chữ mà không hiểu thấu gì nghĩ cho kỹ, nghĩ không ra mới xem chú giải, như thế mới có ý vị”, “… khi gặp điều gì cảm xúc trong lòng, thường bỏ sách ra để nghĩ ngợi, đặt lòng mình về thời đại xưa, luôn luôn băn khoăn, cảm khái” (Vân đài loại ngữ).

Lê Quý Đôn là người quan tâm đến giáo dục toàn diện. Ông là người Việt Nam đầu tiên nêu rõ quan điểm và ý kiến của mình về nhiều mặt giáo dục: giáo dục đạo đức, giáo dục văn hóa khoa học, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục kỹ thuật, giáo dục gia đình và hôn nhân, giáo dục xã hội, giáo dục pháp chế, học đi đôi với hành… Trong bất cứ loại hình giáo dục nào, ông đều có ý kiến xác đáng và độc đáo.

Về giáo dục đạo đức, ông đề cập ở nhiều tác phẩm, như: Am chất văn chú, Dịch kinh phu thuyết, Kiến văn tiểu lục (phần Châm cảnh), Lê Quý Đôn gia lễ, Thánh mô hiền phạm, Thư kinh diễn nghĩa, (Vân đài loại ngữ (phần sĩ quy)…)

Về văn hóa khoa học, ông được coi là người Việt Nam đầu tiên viết sách kỹ thuật và đặt vấn đề giáo dục văn hóa khoa học: lịch sử, địa lý, kỹ thuật nông nghiệp, khí tượng, ngôn ngữ… một cách nghiêm túc và có hệ thống. Những điều ông viết ra là những điều ông đã nghiên cứu, khám phá và người đọc, người học luôn luôn phải cùng suy nghĩ với tác giả. Ông nêu ý kiến rất tiến bộ về giáo dục trí tuệ : “Học giả có ba sự nhiều: đọc nhiều – nghị luận nhiều – trước tác nhiều”.

 Về giáo dục thể chất, ông là người có quan điểm giáo dục thể chất tiến bộ hơn hẳn người đương thời. Ông không chỉ chú ý “luyện võ” mà còn chú ý “bảo vệ đời sống cho lành mạnh, tinh thần trong sạch, cao cả, khoan khoái”, ngày nay ta gọi là vệ sinh thần kinh. Trong Thánh mô hiện phạm, ông dành hẳn một quyển bàn về vấn đề này.

Về giáo dục thẩm mỹ, Lê Quý Đôn quan tâm đến văn nghệ nói chung và âm nhạc nói riêng. Ông hiểu biết tất cả những tri thức âm nhạc từ thế kỷ XVIII trở về trước và tìm ra vẻ đẹp riêng của âm nhạc, một vẻ đẹp hài hòa, giản dị, không bắt chước: thế giới âm thanh phản ánh tâm hồn con người “thanh thấp do nhân tâm tĩnh mà không ganh đua, thanh cao do nhân tâm cấp bách mà thích ganh đua”

Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc.  Công trình biên soạn lớn nhất của Lê Quý Đôn là bộ Toàn Việt thi lục 6 quyển, tuyển chọn 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến đời Lê Tương Dực (1509 - 1516). Lê Quý Đôn hoàn thành Toàn Việt thi lục năm 1768, dâng lên vua, được thưởng 20 lạng bạc.

Nhận xét tổng quát về thơ Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú viết: "Ông là người học vấn rộng, đặt bút thành văn. Cốt cách thơ trong sáng. Lời văn hồn nhiên..., không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không đạt tới, thật là phong cách đại gia".