Ảnh bìa

Đồng chí Hà Huy Tập - Nhà lãnh đạo tài năng, đóng góp to lớn cho Đảng, cho cách mạng Việt Nam

Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906 trong một gia đình nhà nho ở làng Cẩm Nặc, tổng Thổ Ngọa nay là xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh. Từ năm 1919 - 1923 học tại Trường Quốc học Huế; sau 5 năm, Hà Huy Tập đã tốt nghiệp hạng ưu trường Quốc học Huế. Vì hoàn cảnh nghèo không thể tiếp tục học lên bậc cao, Hà Huy Tập xin làm giáo viên tiểu học ở thành phố Nha Trang bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng.

Năm 1925 gia nhập hội Phục Việt (sau đổi là Tân Việt cách mạng Đảng). Ngày 26/1/1926 Hà Huy Tập tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Châu Trinh gây tiếng vang lớn. Thấy vậy, chính quyền thực dân đã điều Hà Huy Tập ra dạy ở trường Cao Xuân Dục (thành phố Vinh). Ở đây, Hà Huy Tập đã lập ra tổ chức “Thanh niên học sinh cách mạng” và hoạt động tuyên truyền trong nhiều môi trường từ trường học, đến nhà máy, sở hỏa xa… để mở rộng tổ chức.

Tháng 3/1927, đồng chí được chuyển vào Nam Kỳ hoạt động. Sau vụ án mạng ở đường Bac-biê, mật thám tịch thu nhiều tài liệu của kỳ bộ Tân Việt, trong đó có một số do Hà Huy Tập viết. Biết bị lộ, kỳ bộ Tân Việt đưa đồng chí tạm lánh sang Trung Quốc. Được sự giới thiệu của tổ chức, Lãnh sứ quan Liên Xô tại Thượng Hải đã gửi đồng chí sang học ở trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) từ ngày 24/7/1929 đến ngày 30/4/1932. Do những thành tích học tập xuất sắc và bản lĩnh cách mạng vững vàng thể hiện qua những chuyến đi thực tế và những bài báo viết cho Tạp chí Bôn sê vich, Hà Huy Tập được kết nạp vào Đảng cộng sản Liên Xô ở trường Đại học Phương Đông.

Sau phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh, cách mạng gặp khó khăn lớn, kẻ thù tiến hành khủng bố gắt gao, bộ máy Đảng mới ra đời bị phá vỡ, đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú và hầu hết các đồng chí cốt cán của Đảng từ Trung ương đến cơ sở bị địch cầm tù, hãm hại, phong trào đi vào thoái trào. Trước tình hình đó, Hà Huy Tập tìm mọi cách trở về nước hoạt động để khôi phục lại tổ chức Đảng.

Đầu tháng 8/1933, Hà Huy Tập gặp Lê Hồng Phong và một số đồng chí ở Quảng Châu, cùng nhau họp bàn quyết định triệu tập Hội nghị Đảng để thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài nước. Hội nghị diễn ra vào tháng 3/1934, Hà Huy Tập được phân công phụ trách công tác tuyên truyền kiêm Tổng biên tập tạp chí Bôn-sê-vich (cơ quan lý luận của Đảng cộng sản Đông Dương). Tại Hội nghị mở rộng của Ban Chỉ huy ở ngoài nước tháng 6/1934, Hà Huy Tập được phân công chuẩn bị các văn kiện cho Đại hội lần thứ nhất của Đảng dự định họp vào năm 1935.

Từ ngày 27 đến ngày 31/3/1935 tại Ma Cao (Trung Quốc), Hà Huy Tập chủ trì Đại hội lần thứ I của Đảng. Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị, Điều lệ Đảng và một số nghị quyết quan trọng khác do Hà Huy Tập dự thảo và trình bày trước Đại hội; bầu Ban Chấp hành Trung ương, gồm 13 đồng chí do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng thư ký (tức là Tổng Bí thư), đồng chí Hà Huy Tập thư ký Ban Chỉ huy nước ngoài. Chưa đầy một năm, hầu hết các đồng chí trong Ban Thường vụ và Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoạt động ở trong nước đã bị địch bắt. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chỉ huy ngoài nước tháng 7/1936 đã cử đồng chí Hà Huy Tập về nước để tổ chức lại Ban Chấp hành Trung ương mới, khôi phục các tổ chức Đảng và trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Ở Hội nghị cán bộ tháng 10-1936, tại Bà Điểm, Hóc Môn (Gia Định) đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Đồng chí Hà Huy tập chính thức được bầu làm Tổng Bí thư Đảng cộng sản Đông Dương. Sau Hội nghị, Hà Huy Tập đã cử các đồng chí ủy viên Trung ương đi Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Cao Miên để khôi phục lại các mối liên lạc. Việc thống nhất các tổ chức Đảng trong cả nước được chính thức thực hiện ở Hội nghị cán bộ toàn quốc tháng 3/1937.

Tháng 9/1937, đồng chí Hà Huy Tập chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương để kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ qua và đề ra những nhiệm vụ trong tình hình mới; kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương gồm 10 đồng chí và Ban Thường vụ gồm năm đồng chí. Tháng 3/1938, tại Bà Điểm, Tổng Bí thư Hà Huy Tập chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương quyết định nhiều nội dung quan trọng để củng cố tổ chức Đảng và lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới đấu tranh cho những cải cách dân chủ ở Đông Dương và đặc biệt là chuẩn bị cho việc thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương.

Tháng 5/1938, Đồng chí bị thực dân Pháp bắt khi đang trên đường đi công tác. Trong hoàn cảnh ở Pháp Mặt trận Nhân dân lên cầm quyền, nên chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam mặc dầu biết Hà Huy Tập là người lãnh đạo quan trọng của Đảng nhưng không thể lấy lí do đó để bắt giam đồng chí, phải lấy cớ trộm cắp giấy tờ, mang căn cước của người khác để phạt đồng chí tám tháng tù và năm năm quản thúc tại quê nhà Hà Tĩnh. Nhưng rồi đến tháng 3/1940 thực dân Pháp vu cáo Hà Huy Tập có trách nhiệm về tinh thần đối với khởi nghĩa Nam Kỳ, nên đã bắt lại đồng chí và tòa án thực dân tuyên án tử hình. Ngày 28/8/1941, đồng chí Hà Huy Tập cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai… bị địch xử bắn tại trường bắn Hóc Môn - Gia Định.

Có thể nói trong suốt 16 năm từ khi tham gia hoạt động cách mạng đến khi trút hơi thở cuối cùng, đồng chí Hà Huy Tập đã dành trọn cuộc đời cho công tác xây dựng Đảng. Trải qua những năm tháng hoạt động khó khăn, khi các cơ sở Đảng bị tấn công dữ dội, Ban Chấp hành Trung ương không tồn tại, đường lối của Đảng không đến được với các cơ sở, thì chính ở thời kỳ khó khăn này, tài năng về tổ chức của đồng chí được thể hiện thông qua những hoạt động không mệt mỏi nhằm xây dựng đường lối và khôi phục tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng từ Trung ương đến cơ sở, góp phần to lớn vào việc giữ vững và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương trong những năm 30 của thế kỷ XX.