Đồng chí Hồ Tùng Mậu - Tấm gương đạo đức sáng ngời của người chiến sĩ cộng sản
Đồng chí Hồ Tùng Mậu (15-6-1896 - 23-7-1951) là nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam, người cộng sự, trợ thủ đắc lực, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ra trong một gia đình - gia tộc giàu truyền thống khoa bảng, yêu nước và cách mạng. Thực tiễn quê hương, đất nước bị áp bức, nhân dân nô lệ, lầm than đã hun đúc tinh thần yêu nước, căm thù đế quốc thực dân, ý chí đấu tranh vì nước, vì dân ở Hồ Tùng Mậu.
Cuối tháng 4-1920, Hồ Bá Cự lấy tên là Hồ Tùng Mậu, từ giã vợ con sang Xiêm (Thái Lan), sau đó sang Trung Quốc làm cách mạng. Trước sự phân tán của nhóm cách mạng người Việt Nam ở Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu đã chủ động cùng các thanh niên yêu nước khác lập ra nhóm Tâm Tâm xã. Tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc nhóm Tâm Tâm xã ở Quảng Châu. Với sự giác ngộ của Nguyễn Ái Quốc các thành viên của Tâm Tâm xã đã có sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và hành động cách mạng. Từ đây, Hồ Tùng Mậu đi theo con đường cách mạng vô sản do Nguyễn Ái Quốc dẫn dắt và trở thành người chiến sĩ cộng sản trọn đời trung thành với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, với lý tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Hồ Tùng Mậu và các đồng chí của mình đã tích cực giúp đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức xây dựng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, dự thảo Điều lệ Hội, tham gia việc xuất bản Báo Thanh Niên. Đồng chí trực tiếp xây dựng, củng cố các cơ sở liên lạc của Hội từ Quảng Châu về trong nước và từ trong nước với Quảng Châu, trực tiếp xây dựng cơ sở của Hội tại Thái Lan. Trong một thời gian ngắn (1926 - 1929), Hội đã có hàng nghìn hội viên hoạt động mạnh trong và ngoài nước với một hệ thống tổ chức tương đối hoàn thiện, từ Tổng bộ đến Tỉnh bộ cho đến các Hội. Đồng chí Hồ Tùng Mậu là một trong những người cộng sản tiên phong, nòng cốt của thời kỳ vận động thành lập Đảng, tham gia tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 thành công.
Sự “trung thành” tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân của đồng chí Hồ Tùng Mậu còn thể hiện ở khí tiết kiên trung, bất khuất, tinh thần lạc quan cách mạng trước đòn roi kẻ thù trong ngục tù đế quốc. Khi hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, đồng chí Hồ Tùng Mậu nhiều lần bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam (từ giữa năm 1927 đến nửa cuối năm 1929, giam ở Quảng Châu, Nam Kinh, Hồng Kông)… Ở trong nước, Tòa án Nam Triều (Vinh, Nghệ An) hai lần tuyên án tử hình đồng chí Hồ Tùng Mậu vào năm 1929 và 1931 "vì tội đi làm cách mạng, xúi giục thanh niên ra nước ngoài mưu đồ phản loạn, chống đối chính quyền và vận động lập Đảng Cộng sản". Năm 1931, sau khi bị bắt ở Thượng Hải, đồng chí bị giải về Việt Nam và bị kết án tử hình lần thứ hai, nhưng do không đủ chứng cứ nên hạ xuống chung thân.
Từ năm 1931 đến 1945, địch lưu đày đồng chí Hồ Tùng Mậu ở rất nhiều nhà tù, như: Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Phú Yên… Mặc dù bị địch tra tấn, đày ải, chịu đói khát trong chốn lao tù khắc nghiệt, nhưng uy vũ không khuất phục được Hồ Tùng Mậu, đồng chí luôn tràn đầy lạc quan tin tưởng vào tương lai tất thắng của cách mạng. Đồng chí trở thành trung tâm đoàn kết anh em tù chính trị, cổ vũ, động viên, giáo dục họ bằng sáng kiến viết “tiểu thuyết miệng” ở nhà lao Vinh, đồng chí lập ra Hội Tao đàn, sáng tác, bình thơ ở nhà ngục Kon Tum… Năm 1941, đồng chí Hồ Tùng Mậu hết hạn tù. Trước khi trả tự do cho đồng chí, Chánh thanh tra mật thám ở Vinh đã dẫn vợ con Hồ Tùng Mậu vào nhà lao và dụ dỗ đồng chí hợp tác với chúng, thôi làm cách mạng. Đồng chí Hồ Tùng Mậu khảng khái chối từ, kiên quyết đi theo con đường đã chọn. Chính vì sự cự tuyệt đó, chính quyền thực dân đã đưa Hồ Tùng Mậu đi an trí ở “căng” Trà Khê, Phú Yên, để cách ly đồng chí với môi trường chính trị. Khi Nhật đảo chính Pháp, Hồ Tùng Mậu cùng các đồng chí của mình tìm cách vượt ngục, trở về quê nhà tại làng Quỳnh Đôi, Nghệ An. Chính phủ Trần Trọng Kim tha thiết mời đồng chí ra làm cố vấn Chính phủ, nhưng đồng chí kiên quyết chối từ. Trong suốt 14 năm liền bị tù đày, đồng chí Hồ Tùng Mậu luôn giữ ý chí bất khuất, kiên trung, tinh thần lạc quan, dùng văn thơ để động viên, khích lệ tinh thần của các đồng chí trong tù, đấu tranh chống lại chế độ lao tù hà khắc, tổ chức học tập lý luận chính trị “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”.
Cách mạng thành công, đồng chí Hồ Tùng Mậu được Đảng, Chính phủ giao nhiều trọng trách: Phụ trách Trường Quân chính Nhượng Bạn, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Liên khu IV, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy, Tổng Thanh tra Chính phủ, Hội trưởng Hội Việt - Hoa hữu nghị. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2-1951), đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương. Đồng chí hy sinh trên đường làm nhiệm vụ, nhưng cái chết đó đã gieo mầm cho sự sống của tương lai. Cuộc đời, sự nghiệp, nhân cách đạo đức của đồng chí Hồ Tùng Mậu đã trở thành bất tử trong lòng nhân dân Việt Nam.
PGS, TS DƯƠNG TRUNG Ý
Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản